Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp cho học sinh lớp 12
Tác giả: Cô Lê Thị Huệ - Giáo viên Ngữ Văn
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục THPT là cấp học có tính bản lề nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người. Vì vậy cấp học này đòi hỏi đội ngũ thầy cô giáo không chỉ giỏi kiến thức mà còn phải có năng lực sư phạm tốt. Điều này đặc biệt cần thiết đối với một GVCN lớp. GVCN là người có trách nhiệm đầu tiên nghiên cứu thực trạng, xác định các nội dung, biện pháp, hình thức, lên kế hoạch và tổ chức sự phối hợp, liên kết các lực lượng, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thiết lập các mối quan hệ tốt nhằm phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giáo dực thế hệ trẻ.
Là một giáo viên tham gia giảng dạy tại Trung tâm GDTX, ngoài công tác chuyên môn thì công tác chủ nhiệm cũng gắn bó với đại đa số thầy, cô. Tuy nhiên chưa thấy một trường đại học nào đào tạo hay ít ra một lớp học nào đó đào tạo chuyên sâu về công tác chủ nhiệm lớp. Công tác chủ nhiệm chỉ thực hiện trên tinh thần trách nhiệm, tâm huyết nghề nghiệp, lòng yêu trẻ … thực hiện với mỗi mục tiêu duy nhất là hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh và phát huy hiệu quả học tập của mỗi học sinh. Thực hiện thành công công tác này dựa trên kinh nghiệm của mỗi thầy, mỗi cô. Chính vì thế có không ít những suy tư, trăn trở cho các thầy, cô giáo
Học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng là lứa tuổi đang ở “ ngã ba đường” của sự phát triển. Ở lứa tuổi này, để xây dựng được một tập thể đoàn kết, biết yêu thương, chia sẻ và có nhiều học sinh học học tốt quả thực không dễ dàng. Ở đó, GVCN phải là người vừa biết cách truyền cảm hứng cho học sinh, vừa phải là tấm gương về mọi mặt: là người cha, người mẹ, người thầy, người anh, người chị … và cũng có những lúc cần là những người bạn của các em. Như vậy có nghĩa là người GVCN cùng một lúc đóng nhiều “vai diễn” mà vai nào cũng đòi hỏi phải hoàn thành xuất sắc.
Muốn làm được điều đó, người GVCN phải luôn luôn tìm tòi, đổi mới, nội dung, phương pháp và am hiểu tâm lý của học sinh. Việc thay đổi nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp cho học sinh lớp 12 có một vai trò hết sức quan trọng trong công tác chủ nhiệm. Sức mạnh thực sự của tiết sinh hoạt lớp không chỉ nằm ở tiếng nói của GVCN, nó cần có sự đóng góp của mọi thành viên trong lớp. Các em cần được nói, được hỏi, được nhận xét, và được chia sẻ. Khi ấy, mỗi tiết sinh hoạt lớp là một cơ hội để cả tập thể cùng chia sẻ, cùng giải quyết vấn đề và từ đó giáo viên sẽ thúc đẩy học sinh của mình học hỏi, giúp chúng khám phá ra những điểm mạnh của bản thân. Khi bản thân học sinh thấy mình có giá trị, các em tự biết mình cần phải sống có trách nhiệm để bảo vệ danh dự của tập thể mà ở đó bản thân các em có tiếng nói và được tôn trọng.
Vì thế, tổ chức tiết SHL có hiệu quả sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho cả giáo viên lẫn học sinh. Xuất phát từ lý do trên nên tôi đã xây dựng “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp cho học sinh lớp 12”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Sáng kiến tôi đưa ra nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong Trung tâm, đặc biệt là biến giờ sinh hoạt lớp thành một tiết sinh hoạt tập thể bổ ích, sinh động, hấp dẫn. Đồng thời giáo dục học sinh một số kĩ năng sống cần thiết. Cụ thể là:
- Định hướng cho học sinh phát triển một cách toàn diện về nhận thức, thái độ , hành vi và nhân cách.
- Giúp xây dựng tập thể đoàn kết, có tinh thần tự giác cao trong học tập cũng như trong lao động .
- Giúp học sinh biết yêu thương, chia sẻ, biết giúp đỡ mọi người.
- Giúp học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp và trong các hoạt động học tập.
- Góp phần nâng cao khả năng hợp tác, xử lý tình huống, ra quyết định, kĩ năng điều hành các hoạt động tập thể của học sinh…
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Biện pháp này được tôi nghiên cứu và áp dụng tại lớp 12G Trung tâm GDNN – GDTX Ba Vì năm học 2023-2024.
2. Phạm vi nghiên cứu
* Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi sáng kiến này tôi chỉ nghiên cứu về việc ứng dụng, sử dụng các hình thức tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực được áp dụng trong tiết sinh hoạt lớp nhằm phát huy tính tích cực, gây hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh.
* Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Trung tâm GDNN – GDTX Ba Vì
* Giới hạn về khách thể khảo sát:
Học sinh khối 12 Trung tâm GDNN – GDTX Ba Vì
IV. PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí thuyết: Về cách thức tổ chức các hoạt động : Thuyết trình, xem phim, tổ chức sinh nhật trao tặng yêu thường, giao lưu, tổ chức các trò chơi trong tiết sinh hoạt lớp.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
- Điều tra
- Phương pháp phân tích
2.Thời gian nghiên cứu: Năm học 2023 - 2024
V. Ý NGHĨA VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Tổ chức giờ sinh hoạt lớp vừa đảm bảo theo yêu cầu của một tiết dạy thông thường, vừa mang đặc thù riêng, nội dung sinh hoạt lớp hàng tuần phải đa dạng cụ thể, bổ ích sáng tạo và phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh. Tạo không khí nhẹ nhàng, vui tươi, thoải mái trong giờ sinh hoạt lớp.
- Hình thành những kĩ năng sống cho học sinh như kĩ năng giao tiếp, tham gia các hoạt động tập thể, rèn luyện tinh thần tự quản, nâng cao ý thức tự chủ, tự tin, chủ động và mạnh dạn để từ đó các em từ đó bồi dưỡng cho các em ý thức xây dựng môi trường sống thân thiện trong lớp học, trường học, ở gia đình và xã hội. Giúp học sinh hứng thú, tích cực và phát huy được khả năng của bản thân, đặc biệt là giúp học sinh có hứng thú, yêu thích và cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ khi đến giờ sinh hoạt lớp. Điều này sẽ là nền tảng cho sự phát triển sự tự tin, để học sinh luôn cảm thấy “ mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, mỗi giờ sinh hoạt cuối tuần là một giờ sinh hoạt tập thể thực sự có ý nghĩa.
- Cung cấp thêm cho giáo viên một số cách thức đổi mới không chỉ ở giờ sinh hoạt lớp mà còn có thể áp dụng cho việc dạy học nhiều môn học khác trong nhà trường THPT nói chung.
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
Người GVCN có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và rèn luyện các kĩ năng sống cho học sinh để giúp các trở thành người có tài và đức. Công tác giáo dục học sinh được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó tổ chức giờ sinh hoạt lớp hiệu quả là một trong những cách giúp người GVCN hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình.
Khổng Tử đã nói: “Biết mà học không bằng thích mà học”. Wiliam Arthur Ward, một nhà văn lớn người Mĩ đã viết: “Dạy học bao gồm nhiều việc hơn là chỉ trao đi tri thức, nó đòi hỏi truyền cảm hứng cho sự thay đổi”. Qua những câu nói trên có thể thấy, để truyền tư duy tích cực cho học sinh thì vai trò quan trọng của việc cho học sinh những kinh nghiệm, những bài học, kĩ năng sống và các kĩ năng xử lí tình huống cho học sinh là rất quan trọng. Giờ sinh hoạt lớp chính là một trong những khoảng thời gian để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng cũng như tình cảm của học sinh để có biện pháp giáo dục, uốn nắn cho phù hợp với những đối tượng học sinh.
II. Cơ sở thực tiễn
1. Thuận lợi và khó khăn
1.1. Thuận lợi
Trong xu thế chung của sự phát triển của xã hội, công tác chủ nhiệm với việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm có những thuận lợi đáng kể.
Trước hết phải nói đến đó là sự quan tâm đầu tư về lực lượng giáo dục của Đảng và Nhà nước đối với chúng tôi. Trong những năm gần đây, với nhận định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Nhà nước ta đã không ngừng tăng cường đầu tư cho giáo dục về cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục ngày càng khang trang đảm bảo cho việc dạy và học.
Thứ hai là, Trung tâm cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của SGD, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Ba Vì cùng với sự hỗ trợ tích cực của chính quyền địa phương về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học về chuyên môn nghiệp vụ cho việc dạy và học. Đây là điều kiện thuận lợi để trường chúng tôi xây dựng cho mình một môi trường thật tốt để giáo dục học sinh.
Thứ ba là, sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của BGĐ Trung tâm cùng các tổ chức đoàn thể, của toàn thể giáo viên đến công tác chủ nhiệm lớp. Đó là điều kiện thuận lợi để bản thân mỗi GVCN có thể tổng kết được công tác chủ nhiệm của mình, từ đó rút ra được những kinh nghiệm và biện pháp khắc phục phù hợp.
Thứ tư là, các bậc phụ huynh, Ban đại diện cha mẹ học sinh tích cực phối hợp cùng Trung tâm và GVCN trong việc giáo dục con em.
Đồng thời, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng hỗ trợ tích cực cho GVCN trong việc tổ chức các buổi hoạt động tập thể, đặc biệt là sinh hoạt lớp gây hứng thú cho học sinh.
1.2. Khó khăn
GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh, đặc biệt là giáo dục đạo đức. Tuy nhiên, công tác chủ nhiệm lớp thực tế là kiêm nhiệm, hiện nay chưa có một khóa đào tạo chính thức nào cho GVCN. GVCN Cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng mỗi khi đến giờ sinh hoạt lớp. Chưa đưa ra được các giải pháp để tổ chức giờ sinh hoạt lớp hiệu quả.
Phần lớn giáo viên ngại đổi mới thiết kế tổ chức các hoạt động cho giờ sinh hoạt lớp sinh động bởi vì để có một giờ sinh hoạt lớp hiệu quả thì giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.
Qua tìm hiểu thực tế bằng việc phỏng vấn các đồng nghiệp làm nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm lớp và các học sinh, tôi nhận thấy thực trạng như sau: Hầu hết những giờ sinh hoạt lớp chỉ là hình thức. Các hoạt động tẻ nhạt và lặp đi lăp lại bao gồm: nhận xét hoạt động tuần vừa qua, phê bình những học sinh mắc khuyết điểm, đưa ra các hình thức kỉ luật, thông báo các kế hoạch của Trung tâm hoặc của Đoàn.
85% số học sinh được hỏi đều cảm thấy không hứng thú với các giờ sinh hoạt lớp. Thậm chí có khoảng 10% số học sinh cho rằng giờ sinh hoạt lớp giống như giờ xử án làm cho những em hay mắc khuyết điểm rất sợ hãi khi đến giờ này. Thậm chí một số em tìm cách trốn giờ sinh hoạt bằng cách báo cáo bị ốm hoặc gia đình có việc quan trọng.Ý thức tự chủ, tự giác xây dựng tập thể của học sinh chưa cao. Đặc biệt các kỹ năng sống của các em như: kĩ năng nhận diện một vấn đề, kỹ năng xác định tình huống, kỹ năng từ chối, kĩ năng xử lý mâu thuẫn, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng chung sống...còn hạn chế.
2. Nguyên nhân
- Giáo viên:
+ Coi nhẹ giờ sinh hoạt lớp hoặc có cách nghĩ chưa đúng về giờ sinh hoạt lớp biến nó thành buổi “ xử tội ” học sinh.
+ Giáo viên quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình vào vị trí của học sinh.
+ Hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú với học sinh.
- Học sinh:
+ Không được cùng nhau tổ chức, tham gia vào giờ sinh hoạt lớp
+ Nội dung giờ sinh hoạt lớp khô cứng, lặp đi lặp lại, không thực sự gắn với nhu cầu của học sinh. Các em không thực sự cảm nhận được vấn đề trong chủ đề là vấn đề của chính mình phải giải quyết mà là vấn đề của thầy/cô.
3.Yêu cầu cần giải quyết
Trước tình hình trên, chúng tôi đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để các em học sinh thấy “ mỗi ngày đến trường đến trường là một ngày vui”, mỗi giờ sinh hoạt lớp cuối tuần là một giờ học “ đặc biệt” thật sự có ý nghĩa? Đó không chỉ là băn khoăn trăn trở của riêng tôi mà còn là băn khoăn của nhiều đồng nghiệp khác. Với vai trò là giáo viên chủ nhiệm trong nhiều năm, tôi đã tìm tòi và đầu tư khá nhiều công sức, thời gian cho giờ sinh hoạt lớp với mong muốn thiết kế một kế hoạch sinh hoạt lớp sinh động, giúp các em thực sự cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc khi đến trường. Từ đó giúp các em có thêm khả năng tự tìm hiểu, khám phá bản thân, học sinh trở nên năng động và tích cực hơn trong mọi hoạt động .
NỘI DUNG
I. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ SINH HOẠT LỚP
Chúng ta đang xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, hướng đến “Trường học hạnh phúc”, là nơi mà học sinh luôn cảm thấy mình được quan tâm, yêu thương, chia sẻ, động viên và luôn cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ khi đến trường. Vì vậy nội dung công tác chủ nhiệm cần được đổi mới một cách mạnh mẽ, đi vào chiều sâu. Đổi mới nội dung và cách thức sinh hoạt lớp trong giờ chủ nhiệm là một trong những việc làm quan trọng. Mục đích là phát huy chủ thể học sinh; lấy học sinh làm trung tâm dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm.
Để tạo tâm thế tốt cho các em bước vào một tiết sinh hoạt hiệu quả, tôi cho lớp khởi động bằng cách hát một bài hát bất kì thật vui vẻ. Sau đó tiến hành 3 hoạt động cơ bản của tiết sinh hoạt. Cụ thể như sau:
*Hoạt động 1: Đánh giá hoạt động tuần qua
Đánh giá hoạt động tuần qua là một hoạt động đặc biệt, khép lại một tuần học căng thẳng và chuẩn bị cho một tuần học mới. Vì thế, để giúp các em nhận ra những ưu điểm cần phát huy và hững hạn chế cần khắc phục thì giáo viên chủ nhiệm cần chú ý đến hoạt động này. Để đánh giá hoạt động tuần qua có hiệu quả, tôi tiến hành như sau:
- Lớp trưởng đóng vai trò là người dẫn chương trình, điều hành chung hoạt động của các tổ dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm.
- Tổ chức cho học sinh thảo luận: Thay vì cách làm xưa nay là giáo viên chỉ nhận xét, đánh giá phê bình hoặc tuyên dương một chiều thì nay tôi tổ chức cho học sinh thảo luận.Tổ trưởng điều hành và tổng hợp lại những ưu điểm, nhược điểm của tổ mình, đề nghị tuyên dương những bạn có thành tích cao trong tổ .
- Tổ chức cho các tổ trưởng lần lượt lên báo cáo trước lớp. Các bạn khác trong lớp nhận xét, bổ sung.
- GVCN nhận xét đánh giá chung và chốt lại vấn đề. Khi chốt lại vấn đề giáo viên chủ nhiệm phải thật công bằng đối với các em. Những bạn được tuyên dương, giáo viên có những món quà nhỏ để khích lệ. Còn đối với các em hay vi phạm, giáo viên nhẹ nhàng nhắc nhở khéo léo để các em nhận ra khuyết điểm của mình để khắc phục. Giáo viên chủ nhiệm xử lý thật khéo léo để những em được tuyên dương hay những bạn mắc lỗi đều cảm thấy hài lòng, vui vẻ, nhẹ nhàng.
* Đối với các em học sinh hay vi phạm tôi thường sử dụng “phương pháp noi gương” đó là kể ra những câu chuyện về học sinh cá biệt biết thay đổi bản thân và trở thành những người thành đạt trong cuộc sống. Từ đó giáo dục cho các em học sinh hay vi phạm phải biết tự trau dồi rèn luyện để thay đổi bản thân mình tốt hơn.
*Hoạt động 2: Xây dựng kế hoạch tuần tới
Để giúp các em có một tâm thế, thái độ tốt, đặc biệt là có sự chuẩn bị chu đáo cho tuần học mới có hiệu quả, giáo viên chủ nhiệm cần tổ chức cho học sinh thực hiện tốt hoạt động xây dựng kế hoạch tuần tới. Ở hoạt động này, chúng tôi tiến hành như sau:
- GVCN đã dựa vào kế hoạch của Trung tâm, của đội và lên kế hoạch cơ bản cho lớp chiếu lên bảng .
- Tổ chức cho các tổ thảo luận tìm ra giải pháp để thực hiện kế hoạch tuần tới.
- Tổ chức cho các tổ trưởng lên trình bày trước lớp về các giải pháp của tổ mình.
- GVCN chốt lại các giải pháp khả thi và khen ngợi các tổ đưa ra giải pháp hay nhất.
Với cách làm này thì các em học sinh đều rất tích cực đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch, phát huy được tư duy, sáng tạo cũng như tinh thần trách nhiệm của các em đối đối với tập thể lớp.
* Hoạt động 3: Sinh hoạt theo chủ đề, chủ điểm
Ở hoạt động này, tôi chú ý đa dạng hoá về nội dung, hình thức thực hiện để tăng thêm sự hấp dẫn, hứng thú đối với học sinh và tất cả các em đều có thể tham gia. Khi sinh hoạt chủ đề, chủ điểm, tôi có thể chọn các hình thức sau đây:
1. Tổ chức thảo luận, thuyết trình các chuyên đề
Thay vì cách làm xưa nay là giáo viên chủ nhiệm “thuyết giảng” về bài học đạo đức một chiều thì nay chúng ta đưa ra những “chuyên đề” phù hợp cho học sinh thảo luận trong giờ chủ nhiệm.
Nội dung các chuyên đề phải thật gần gũi, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Có thể theo chủ điểm hàng tháng hoặc những vấn đề đang được xã hội quan tâm như: Môi trường sống, an toàn giao thông; tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi học trò; chọn nghề cho tương lai như thế nào; xài tiền như thế nào khi chúng ta còn sống phụ thuộc vào cha mẹ; lợi ích của việc đọc sách; kinh nghiệm học giỏi bộ môn…
Khi đưa ra những chuyên đề này, những tình huống có vấn đề để phát huy trí lực học sinh; khơi gợi những bức xúc, những suy nghĩ đa chiều để các em bộc lộ. Từ đó, GVCN có sự định hướng đúng đắn; mở ra hướng suy nghĩ tích cực cho các em.
Tôi thường thông báo các chuyên đề vào thứ hai đầu tuần để học sinh có thời gian chuẩn bị, nghiền ngẫm vấn đề và tổ chức thảo luận chuyên đề vào tiết chủ nhiệm cuối tuần tránh tình trạng thiếu sự chuẩn bị hoặc chưa chuẩn bị chu đáo. Cũng không nên tìm, đưa ra những vấn đề to tát của “người lớn” để các em phải “gồng mình” trả lời không thực tế, sáo rỗng…
2. Tổ chức cho học sinh xem phim, đoạn tư liệu hay bài giảng có ý nghĩa .
Trong một số tiết sinh hoạt, tôi tổ chức cho học sinh xem một số bộ phim ngắn của “ Quà tặng cuộc sống”, “ Việc tử tế” hay các bài giảng của thầy Nguyễn Thành Nhân có nhiều ý nghĩa giáo dục. Cách làm như sau:
- Giáo viên chiếu các đoạn video cho học sinh xem.
- Giáo viên đặt ra các câu hỏi có liên quan đến đoạn video để các em thảo luận và trả lời.
- Học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi.
- Giáo viên chốt lại vấn đề và thông qua đó giáo dục các em về lối sống, nhân cách, và một số kĩ năng sống cần thiết. Giáo viên có thể chọn chiếu một phim phù hợp với mục đích của giờ sinh hoạt.
*Chương trình “Quà tặng cuộc sống”: Tôi cho học sinh xem các bộ phim như : Chiếc bình nứt, bài học về sự tự tin, đứa cháu hư, giàu ở tấm lòng, công việc của cha mẹ, bài học nhớ đời, trêu chọc bạn bè, chị chị em em, lòng trung thực,..
Ví dụ: Khi chiếu câu chuyện “Chiếc bình nứt”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Sự khiếm khuyết có giá trị không? Hình ảnh chiếc bình nứt tượng trưng cho ai trong cuộc sống? Trong cuộc sống, khi gặp những khiếm khuyết của bản thân hay của người khác, chúng ta thường làm gì? Em rút ra được bài học gì qua đoạn video? Các học sinh thảo luận, suy nghĩ, đưa ra câu trả lời cho tất cả các câu hỏi trên. Giáo viên sẽ phân tích thêm nội dung, ý nghĩa của từng đáp án để các em hiểu rõ hơn từ đó rút ra được bài học cho bản thân và vận dụng vào cuộc sống.
Giáo viên nhấn mạnh bài học rút ra từ đoạn video : Mỗi người trong chúng ta đều có những khuyết điểm riêng biệt. Ai cũng đều là”chiếc bình nứt” cả. Nhưng chính các vết nứt và khuyết điểm đó của từng người mới khiến cho đời sống của chúng ta trở nên thú vị và hấp dẫn. Chúng ta phải chấp nhận cá tính của từng người trong cuộc sống và tìm cho ra cái tốt trong họ.
*Chương trình “Việc tử tế”: Chúng tôi cho học sinh xem các video như: Hơn 8 năm làm đôi chân cõng bạn đến trường, chàng trai cưu mang người già neo đơn, những hi sinh thầm lặng, ...
Ví dụ: khi chiếu đoạn tư liệu “Hơn 8 năm cõng bạn đến trường” giáo viên có thể đặt những câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về tình bạn giữa Hiếu và Minh? Nếu em là Hiếu, em có hành động như vậy không? Em rút ra được bài học gì từ đoạn tư liệu trên?
Học sinh thảo luận và trả lời các câu hỏi. Giáo viên chốt lại và nhấn mạnh bài học: Sự giúp đỡ bạn bè một cách vô tư để qua đó ta thấy toát lên một “đôi bạn cùng tiến”, một tình bạn thật đẹp được xã hội, cộng đồng công nhận và bài học về ý chí nghị lực của Minh.
*Các bài giảng của thầy Nguyễn Thành Nhân: Tôi cho học sinh xem các bài giảng như: Bạn đã thực sự là người con có hiếu, học giỏi mà không gian nan, sự vô cảm, cảm ơn Mẹ là Mẹ của con,…
Mỗi giờ sinh hoạt, giáo viên chỉ cần chiếu một đến hai đoạn video, không nên chiếu quá nhiều mà nên để thời gian cho học sinh suy nghĩ, thảo luận.
Giải pháp trên nhằm tác động vào tư tưởng, tình cảm, lối sống, suy nghĩ tích cực của học sinh giúp các em dần hoàn thiện nhân cách và tốt lên mỗi ngày. Phương pháp này đem lại hiệu quả giáo dục rất lớn mà giáo viên không phải “nói nhiều”.
3. Chúc mừng sinh nhật – trao tặng yêu thương.
GVCN có thể cố vấn cho học sinh lớp chủ nhiệm chúc mừng sinh nhật những bạn có ngày sinh trong tháng hoặc tuần đang sinh hoạt. Lớp tự thiết kế một món quà đặc biệt, có thể chỉ là tấm thiệp có ghi những lời chúc mừng độc đáo của các bạn trong lớp,… Món quà nhỏ nhưng có nhiều ý nghĩa về mặt tinh thần, thể hiện sự đoàn kết, hòa đồng, quan tâm và tình cảm chân thành của bạn bè dành cho nhau.
GVCN có thể thực hiện như sau:
- Làm một bảng tổng hợp ngày sinh của các em theo tháng và treo vào một góc của lớp học.
- Đề nghị cả lớp hàng tháng, khi đến sinh nhật của những bạn nào thì các bạn trong lớp sẽ gửi một lời chúc tốt đẹp nhất của mình đến những bạn đó và bỏ vào một chiếc túi đặc biệt của lớp.
- Đến buổi sinh hoạt tuần cuối của tháng, giáo viên sẽ mở túi đó ra và yêu cầu lớp trưởng đọc từng lời chúc của từng bạn và sẽ tổng kết lại xem bạn nào nhận được nhiều lời chúc nhất.
- Lớp cũng chuẩn bị những phần quà nho nhỏ dành cho các bạn có ngày sinh trong tháng đó.
Việc làm này được các em rất quan tâm và hưởng ứng. Qua đó, tăng thêm tinh thần đoàn kết, gắn bó , sự quan tâm lẫn nhau giữa các bạn trong lớp.
4. Giáo lưu với người trong cuộc
Giao lưu là một hình thức tổ chức họat động giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết đề HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình, với người thật, việc thật trong các lĩnh vực hoạt động nào đó. Sinh hoạt lớp dưới hình thức giao lưu có thể tổ chức nhân các ngày lễ lớn của dân tộc hay của lứa tuổi HS... Khi tiến hành tổ chức họat động giao lưu cần lưu ý:
- Những vấn đề trao đổi, giao lưu phải thiết thực liên quan đến lợi ích và hứng thú của HS, đáp ứng nhu cầu của các em, thu hút đông đảo HS tham gia;
- Người chủ trì cần có buổi làm việc trước với chuyên gia về mục tiêu, nội dung buổi nói chuyện, đặc điểm của đối tượng giao lưu như tuổi, lớp, những vấn đề được HS quan tâm nhất hoặc đang vướng mắc; quy mô tổ chức, phương thức tiến hành.
- Khi tiến hành giao lưu, cần kết hợp trò chuyện giữa người dẫn chương trình với khách mời giao lưu và trao đổi, trò chuyện giữa khách mời với người tham dự buổi giao lưu…
Chương trình “Tôi là ai?”
- Nội dung: tiết sinh hoạt mỗi tuần sẽ có 2 bạn lên đứng trước lớp và giới thiệu về bản thân mình (gia đình, sở thích, ước mơ…..)
- Hình thức tổ chức: các bạn ở dưới đặt câu hỏi hoặc đưa ra những câu đố,
tình huống để thử thách nhân vật chính.
- Nhân vật chính sẽ có ý tưởng để thực hiện chương trình, và cách thức tổ chức luôn được đổi mới để cả lớp hứng thú.
- Mục đích: Chương trình đã giúp các bạn tự tin khi đứng trước đám đông, tập thể lớp cũng gắn bó và hiểu nhau hơn, và thay đổi không khí của buổi sinh hoạt.
5. Tổ chức các cuộc thi (văn nghệ, hiểu biết khoa học, HS thanh lịch...)
Hội thi là một hình thức tổ chức họat động giáo dục, trong đó tạo ra sân chơi hấp dẫn, mang tính thi đua, cạnh tranh giữa HS hoặc các nhóm HS để các em có cơ hội thể hiện tài năng, vẻ đẹp, cùng nhau chia sẻ, tiếp nhận những kiến thức có liên quan đến chủ đề đã được lựa chọn.
Đây là hình thức tổ chức họat động tổng hợp nhiều loại hình, đòi hỏi thời gian chuẩn bị công phu...
Một số điều lưu ý
- Công tác chuẩn bị phải tiến hành trước khi diễn ra cuộc thi từ 5- 7 ngày
- Họp ban tổ chức, người dẫn chương trình để bàn bạc thống nhất khung chương trình, đảm bảo tạo sự hứng thú cho tập thể lớp
Cuộc thi “ Thời trang với an toàn giao thông”
- Nội dung: trình diễn trang phục theo chủ đề an toàn giao thông
- Hình thức tổ chức:
+ Chia lớp thành hai nhóm (theo hai dãy lớp học) lần lượt các thành viên mỗi nhóm sẽ lên trình diễn trang phục tự chế theo chủ đề.
+ Ban giám khảo ( 3 học sinh) : chấm điểm, trao giải.
- Mục đích: Chương trình đã giúp học sinh có điều kiện thể hiện cá tính, sức sáng tạo. Đồng thời rèn kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng chung sống.
6. Tổ chức các trò chơi:
Ở phần sinh hoạt theo chủ đề tôi cố gắng đa dạng hoá các hình thức hoạt động, đặc biệt là sử dụng nhiều trò chơi khác nhau để tăng phần hứng thú, hấp dẫn đối với các em. Khi sử dụng các trò chơi trong giờ sinh hoạt, giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau:
* Nguyên tắc áp dụng phương pháp trò chơi trong giờ Sinh hoạt.
Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng tháng, mối quan hệ giữa trò chơi với hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lí, đúng mức và đúng lúc để không xáo trộn nhiều không gian lớp học; trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt. Trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng việc thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹ nhàng người (đội) thua cho vui (dí dỏm, tế nhị).
* Lựa chọn nội dung tổ chức trò chơi.
Nội dung phải vừa sức, phải đảm bảo đủ thông tin mà học sinh đã nắm được, không dễ quá và cũng không khó quá. Nội dung cần phù hợp với cuộc sống thực tế của học sinh, giúp các em dễ vận dụng vào thực tiễn.
* Cách tổ chức trò chơi có hiệu quả.
Trò chơi có thể tổ chức theo các bước sau:
- Bước 1: Nêu thể lệ trò chơi
- Bước 2: Học sinh thực hiện trò chơi
- Bước 3: Tổng kết, đánh giá
* Các trò chơi có thể tổ chức:
Các trò chơi mà tôi thường sử dụng như sau: Nhanh tay nhanh mắt, đuổi hình bắt chữ, trò chơi âm nhạc, chinh phục tri thức, vòng quay kì diệu, giải ô chữ, ô cửa bí mật…
Ví dụ: Ở chủ điểm tháng 12: “ Uống nước nhớ nguồn” chúng tôi cho học sinh thi trò chơi “ vòng quay kỳ diệu”. Luật chơi như sau:
-Lớp chia thành 2 đội : Đội nam và đội nữ( hoặc theo 2 dãy bàn học)
-Mỗi đội chọn câu hỏi bất kỳ và trả lời.
- Mỗi câu trả lời đúng được 10 điểm, và đội đó sẽ được quay vòng quay để lấy thêm điểm thưởng.
+ Nếu vào ô mất lượt sẽ bị mất lượt quay vào vòng sau.
+ Nếu vào ô nhân đôi, điểm số sẽ được nhân đôi.
+ Nếu vào ô trừ điểm, đội đó sẽ mất đi 50% điểm của câu đó.
+ Nếu vào ô may mắn, đội đó sẽ được nhận phần thưởng.
Hay ở chủ điểm “ giao tiếp với thầy cô và bạn bè”, tôi cho học sinh chơi trò chơi “ Nhanh tay nhanh mắt”. Luật chơi: Trong vòng 20 giây, bạn nào giơ tay trước thì được quyền cả lời. Bạn nào trả lời sai mà còn thời gian thì dành quyền cho bạn khác
Qua mỗi trò chơi như vậy, cá nhân hoặc tổ nhóm nào đạt được điểm cao nhất thì sẽ được một phần quà nho nhỏ của thầy(cô) . Món quà tuy rất nhỏ nhưng kích thích được tinh thần xây dựng và ý thức phấn đấu của mỗi cá nhân cũng như nhóm, tổ. Học sinh hăng hái dơ tay trả lời một cách vui vẻ và giờ sinh hoạt trở nên sinh động, hấp dẫn, cô trò tràn ngập trong tiếng cười, tiếng vỗ tay, xua tan bao mệt mỏi, căng thẳng của một tuần học tập.
II. GIÁO ÁN MINH HOẠ
SINH HOẠT LỚP TUẦN 5
CHỦ ĐỀ 1: GIAO TIẾP VỚI THẦY CÔ VÀ BẠN BÈ
I. Yêu cầu cần đạt:
1. Năng lực
- Năng lực tự chủ và tự học: HS đánh giá được hoạt động của lớp trong tuần và lập kế hoạch cho cá nhân, nhóm, lớp của tuần tới. Học sinh biết nhận diện được các ưu, nhược điểm của bản thân trong giao với thầy cô, bạn bè. Biét điều chỉnh những hạn chế trong giao tiếp của bản thân với thầy cô và bạn bè.
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Thảo luận nhóm để xây dựng kế hoạch tuần tới. Chia sẻ cùng bạn những kỹ năng giao tiếp với thầy cô và bạn bè.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Đa dạng hoá hình thức trình bày các vấn đề trong tiết sinh hoạt (xử lý tình huống, vẽ tranh, thuyết trình, đóng vai …)
2. Phẩm chất.
- Trung thực: trong tự đánh giá bản thân mạnh dạn nêu ý kiến, nhận lỗi, sửa lỗi..
- Nhân ái: thể hiện sự yêu thương và thân thiện với bạn bè, thầy cô để cùng nhau tiến bộ.
- Trách nhiệm: bản thân tự giác và đồng thời nhắc nhở bạn thực hiện nghiêm túc nội quy trường, lớp, có trách nhiệm với công việc được giao.
II. Đồ dùng học tập:
- GV : máy tính, ti vi,…Video bài hát “ Mái trường mến yêu”
- HS: Sổ theo dõi, bài hát” bốn phương trời”, những kỹ năng về cách giao tiếp với thầy cô, bạn bè.
III. Các hoạt động dạy - học:
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Sau khi thực hiện đổi mới nội dung, hình thức tổ chức sinh hoạt như trên đối với lớp 12G năm học 2022-2023, 12E năm học 2023-2024, tôi thấy đưa lại hiệu quả cao. Cụ thể là:
- Về phía học sinh:
+ Hầu hết học sinh đều rất vui vẻ, hứng thú với giờ sinh hoạt lớp.
+ Các em đã chủ động, sáng tạo và tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp mà không phải chờ đến cô nhắc nhở.
+ Các em đã được hình thành và phát triển một số kĩ năng sống cần thiết: Kĩ năng giao tiếp; kĩ năng làm việc theo nhóm; kĩ năng trình bày; biểu diễn, kĩ năng lao động …
+ Tinh thần đoàn kết, yêu thương, chia sẻ giữa các bạn trong lớp được nâng cao.
- Về phía GVCN : Bản thân tôi không còn cảm thấy căng thẳng mỗi giờ sinh hoạt đến. Cuối tuần cô trò lúc nào cũng rất vui vẻ, nhẹ nhàng, tinh thần thoải mái để chuẩn bị tâm thế tốt cho một tuần học mới.
- Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao.
* Kết quả đã đạt được về hạnh kiểm và học lực lớp 12G năm học 2023 – 2024.
|
Nội dung |
Kì 1 |
Cuối năm |
Ghi chú |
|||
|
Tổng số học sinh |
40 |
40 |
|
|||
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
||
|
Kết quả rèn luyện |
Tốt |
35 |
87,5 |
40 |
100 |
|
|
Khá |
05 |
12,5 |
0 |
100 |
|
|
|
Đạt |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
|
|
CĐ |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
|
|
|
Tốt |
08 |
20 |
10 |
25 |
|
|
Kết quả về học tập |
Khá |
32 |
80 |
30 |
75 |
|
|
|
Đạt |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
|
|
CĐ |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
* Kết quả thi đua cuối năm:
- Tập thể lớp 12G: Tập thể lớp xuất sắc.
- Danh hiệu giáo viên chủ nhiệm: Đạt giáo viên chủ nhiệm giỏi
* Mức độ ảnh hưởng:
- Biện pháp này dễ thực hiện nên có thể áp dụng được cho tất cả các khối lớp của cấp THPT .
- Năm học 2024-2025, GVCN các khối lớp của Trung tâm đã bắt đầu áp dụng .
PHẦN III. KẾT LUẬN
I. Kết luận chung
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp cho học sinh lớp 12” được áp dụng đáp ứng mục tiêu của GDPT 2018 hiện nay, đó là tạo ra được những học sinh có phẩm chất và năng lực tốt. Tạo được bầu không khí thân thiện, tích cực, có kĩ năng sống, ứng xử, giao tiếp tốt. Đồng thời tăng thêm sự hứng thú trong học tập của học sinh, giúp các em trở thành những “con ngoan, trò giỏi”.
Với việc vận dụng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp cùng với quá trình khảo nghiệm và thu thập kết quả, tôi nhận thấy đề tài có hiệu quả thiết thực vào việc đổi mới giờ sinh hoạt lớp, đặc biệt đối với học sinh GDTX cấp THPT. Từ kết quả và ý nghĩa của đề tài, tôi nhận thấy giải pháp đưa ra không những vận dụng tốt ở các lớp cá nhân tôi chủ nhiệm mà có thể nhân rộng mô hình này đến tất cả các giáo viên chủ nhiệm khác trong Trung tâm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong các giờ sinh hoạt lớp cũng như trong các hoạt động giáo dục khác; góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục và đó cũng là tiền đề cần thiết để hình thành các kỹ năng sống tích cực cho học sinh THCS.
II. Điều kiện áp dụng
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ sinh hoạt lớp cho học sinh lớp 12” là sáng kiến có thể vận dụng được tất cả ở các khối lớp . Tuy nhiên đối tượng ở các khối lớp khác nhau, trình độ khác nhau đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng thật linh hoạt cho phù hợp. Đặc biệt với những lớp đối tượng học sinh còn hạn chế về mức độ nhận thức và cách thức tổ chức hoạt động tránh để các em cảm thấy nặng nề trong giờ học.
III. Hướng tiếp tục nghiên cứu
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ sinh hoạt lớp cho học sinh lớp 12 ” mang lại hiệu quả tích cực trong việc lĩnh hội tri thức của các em góp phần hình thành phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm nhiều hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp đa dạng hơn nữa để có thể vận dụng với tất cả các lớp ở các bậc học khác nhau.
IV. Đề xuất, khuyến nghị
Để giờ sinh hoạt lớp đạt kết quả tốt theo định hướng phát triển năng lực của học sinh chúng tôi xin có một số kiến nghị sau:
1. Với học sinh:
- Tâm thế tốt, tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp.
- Mạnh dạn, tự tin, sẵn sàng nhận nhiệm vụ.
2. Với giáo viên
- Phải thật sự nhiệt tình, tâm huyết với nghề, luôn có tinh thần học hỏi, đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục cho phù hợp với học sinh của từng khối, lớp.
- Luôn luôn thực hiện theo phương châm khen nhiều hơn chê. Động viên khích lệ kịp thời những việc làm của các em.
3. Với Trung tâm:
BGĐ và tổ trưởng chuyên môn có kế hoạch dự giờ đột xuất, quan tâm tạo điều kiện tổ chức các buổi giao lưu, ngoại khóa để học sinh tham gia tích cực nhằm nâng cao, mở rộng kiến thức cho các em.
4. Với SGD:
SGD nên thường xuyên tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học để giáo viên các Trung tâm được học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, có như vậy chất lượng giáo dục nói chung, giáo dục của GDTX nói riêng sẽ tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Báo giáo dục thời đại.
- Phương pháp dạy học tích cực - FB Trần Khánh Ngọc
- Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT – Nhà xuất bản GD 2008.
- Công tác chủ nhiệm lớp - Xuất bản Giáo dục, 2015
- Ứng xử sư phạm - Đại học quốc gia Hà Nội, 2016
- Cùng sự cộng tác của các đồng chí cán bộ giáo viên Trung tâm.
- Nguồn intenet
MỤC LỤC
|
Nội dung |
Số trang |
|
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ |
1-3 |
|
I. Lí do chọn đề tài |
1-2 |
|
II. Mục đích nghiên cứu |
2 |
|
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu |
2 |
|
IV. Phương pháp, thời gian nghiên cứu |
2 |
|
V. Ý nghĩa và tính mới của đề tài |
3 |
|
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ |
4-12 |
|
I. Cơ sở lý luận |
4 |
|
II. Cơ sở thực tiễn |
4-6 |
|
I. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp |
7 |
|
Hoạt động 1: Đánh giá hoạt động tuần qua |
7-8 |
|
Hoạt động 2: Xây dựng kế hoạch tuần tới |
8 |
|
Hoạt động 3: Sinh hoạt theo chủ đề |
8 |
|
1.Tổ chức thảo luận thuyết trình các chuyên đề |
8 |
|
2. Tổ chức cho học sinh xem phim, đoạn tư liệu hay bài giảng có ý nghĩa |
9-10 |
|
3.Chúc mừng sinh nhật, trao tặng yêu thương |
10 |
|
4. Giao lưu với người trong cuộc |
10 |
|
5.Tổ chức các cuộc thi ( văn nghệ, thanh lịch…) |
11 |
|
6. Tổ chức các trò chơi |
11-12 |
|
II. Giáo án minh hoạ |
13-17 |
|
III. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm |
17-18 |
|
PHẦN III: KẾT LUẬN |
19-20 |
|
I. Kết luận chung |
19 |
|
II.Điều kiện áp dụng |
19 |
|
III. Hướng tiếp tục nghiên cứu |
19 |
|
IV. Đề xuất, kiến nghị |
19-20 |
10:36 02/04/2025
Copyright © 2022 TRUNG TÂM GDNN - GDTX HUYỆN BA VÌ