Sáng kiến kinh nghiệm: Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Địa lí
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hường - Giáo viên Địa lý
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
|
Nội dung |
Từ viết tắt |
|
Bộ Giáo dục và Đào tạo |
BGDĐT |
|
Trung học phổ thông |
THPT |
|
Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên |
GDNN – GDTX |
|
Sáng kiến kinh nghiệm |
SKKN |
|
Học sinh |
HS |
|
Ủy ban nhân dân |
UBND |
|
Hội đồng nhân dân |
HĐND |
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Ngày nay, trước sự phát triển không ngừng của các thành tựu khoa học - kỹ thuật và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào tạo nước nhà phải không ngừng đổi mới cả về nội dung và phương pháp, nhằm chắt lọc những tinh hoa văn hoá dân tộc và lĩnh hội thành tựu giáo dục tiên tiến của thế giới. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
Để đạt được những mục tiêu đó, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã đưa ra định hướng về phương pháp giáo dục:“Các môn học và hoạt động giáo dục áp dụng các phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy để được phát triển”.
Do đó việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực là yêu cầu cấp thiết và cần được thực hiện ở tất cả các môn học của các cấp học. Điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên đều nỗ lực, đồng hành cùng Ngành trong cuộc đổi mới đó nhằm tìm ra phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và nội dung trọng tâm của bài học.
1.2. Cơ sở thực tế
Địa lí là môn học có sự liên kết mật thiết giữa kiến thức và các vấn đề thực tiễn. Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Địa lí theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018, đồng thời giúp học sinh vận dụng kiến thức vào phân tích các vấn đề thực tế, nâng cao nhận thức về các vấn đề toàn cầu và địa phương.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển ngày càng hiện đại, học sinh bị cuốn vào thế giới ảo, dành hầu hết thời gian vào những trò chơi trên mạng, lười đọc sách, thụ động trong các giờ học, chép bài và trả lời bài học một cách rập khuôn máy móc, hiệu quả làm bài chưa cao. Nhiều học sinh không hứng thú học môn Địa lí. Điều đó cũng nhắc nhở mỗi giáo viên phải có những phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, tạo môi trường học thân thiện, lôi cuốn các em tham gia tích cực vào các hoạt động học. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi các phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho phù hợp với thực tế hiện nay cho học sinh lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Qua thực tiễn giảng dạy trực tiếp môn Địa lí cấp THPT theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Ba Vì, tôi nhận thấy vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực mang lại hiệu quả và có tính ứng dụng cao. Khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật này, giáo viên không những tạo được hứng thú cho học sinh, giúp cho học sinh lĩnh hội được kiến thức mà còn trang bị cho các em kĩ năng hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ, tôn trọng nhau; rèn luyện kĩ năng diễn đạt, trình bày, tranh luận… từ đó, giúp các em tự tin hơn trong học tập và cuộc sống. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Địa lí”.
2. Mục đích
Đề tài “Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Địa lí” đáp ứng được yêu cầu về đổi mới tổ chức hoạt động học mà Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đưa ra. Đề tài đem lại hiệu quả cao, phù hợp với thực tiễn của Trung tâm. Vì nó không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức Địa lí một cách hứng thú, sinh động hơn mà còn hình thành và phát triển các năng lực cần thiết từ đó vận dụng linh hoạt vào thực tiễn đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục suốt đời.
Hơn thế nữa, việc ứng dụng công nghệ thông tin và các phầm mềm thiết kế trong quá trình dạy học còn là thực hiện đúng với yêu cầu về “Chuyển đổi số” trong giáo dục, hướng tới giáo dục thông minh trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Địa lí” được nghiên cứu và thực nghiệm ở lớp 11H, 11I 12C, 12D (Năm học: 2023 - 2024) và tiếp tục thực hiện đề tài trong năm học 2024 - 2025 tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Ba Vì.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn.
- Thống kê số liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh.
- Phương pháp điều tra...
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Thực trạng công tác giảng dạy tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Ba Vì
1.1. Thực trạng
Công tác giảng dạy được coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất của một cơ sở giáo dục. Để khẳng định được uy tín của nhà trường thì chất lượng giáo dục luôn được đặt lên hàng đầu. Trong nhưng năm qua các phong trào thi đua Dạy tốt – học tốt diễn ra. Đặc biệt, đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các bộ môn luôn được chú trọng. Tổ giảng dạy đã tổ chức nhiều chuyên đề áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh theo hướng tích cực.
Như vậy việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong các môn học nói chung, môn Địa lí nói riêng đã được trung tâm quan tâm. Nhưng tôi nhận thấy việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong nhà trường nói chung, bộ môn Địa lí nói riêng cũng bộc lộ nhiều bất cập, lúng túng về phương pháp khiến cho hoạt động giáo dục chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Kết quả khảo sát đầu năm tại các lớp trước khi thực hiện đề tài:
|
Lớp |
Sĩ số |
Rất tích cực |
Tích cực |
Chưa tích cực |
|||
|
Số lượng |
% |
Số lượng |
% |
Số lượng |
% |
||
|
11H |
42 |
4 |
9,5 |
12 |
28,6 |
26 |
61,9 |
|
11I |
43 |
6 |
14,0 |
10 |
23,3 |
27 |
62,7 |
|
12C |
42 |
3 |
7,1 |
13 |
31,0 |
26 |
61,9 |
|
12D |
44 |
6 |
13,6 |
15 |
34,1 |
23 |
52,3 |
Qua kết quả khảo sát ở các lớp 11, 12 ở bộ môn Địa lí, tôi nhận thấy phần lớn học sinh chưa tích cực, chưa hứng thú, tích cực khi học môn Địa lí. Vì vậy việc lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng ở học sinh đòi hỏi có nhiều phương thức cho HS tiếp cận và đón nhận kiến thức theo nhiều cách khác nhau.
1.2.1. Thuận lợi
Được sự chỉ đạo sâu sát của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, sự quan tâm của Huyện ủy, HĐND, UBND, các ban ngành đoàn thể địa phương.
Giáo viên có kiến thức, kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, tích cực, sáng tạo thích ứng nhanh với các kế hoạch mới, cập nhật công nghệ thông tin. Luôn có tinh thần học hỏi, đoàn kết, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn. Không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chuyên đề, các lớp bồi dưỡng, tập huấn.
Công tác giảng dạy được nhà trường chú trọng với nhiều phong trào thi đua sôi nổi như thi đua dạy tốt học tốt, phong trào xay dựng trường học thân thiện học sinh tích cực...
Nề nếp học tập của học sinh được duy trì, hầu hết học sinh ngoan, có ý thức cao trong học tập và trau dồi bản thân. Chất lượng học sinh trong những năm gần đây đều đạt 98% từ trung bình trở lên. Kết quả học sinh thi tốt nghiệp Trung học phổ thông được cải thiện.
Phụ huynh học sinh luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện và nhất trí cao với công tác giáo dục của nhà trường.
Nhà trường có cơ sở vật chất tốt, trang thiết bị hiện đại (như máy chiếu, tivi, phòng thí nghiệm, kết nối internet trong các phòng học...) tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh có cơ hội học tập tốt hơn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được kết quả cao, nhưng công tác giảng dạy của Trung tâm GDNN-GDTX Ba Vì nói chung, bộ môn Địa lí nói riêng vẫn bộc lộ một số tồn tại và hạn chế; đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cần phải vượt qua.
* Về phía đội ngũ giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên thỉnh giảng đông, thường xuyên biến động.
- Một số giáo viên trẻ, nhà xa, kinh nghiệm trong giảng dạy còn hạn chế, vẫn còn nặng trong việc dạy học truyền thống, đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả chưa cao...
- Một số học sinh còn thiếu sự quan tâm của gia đình nên việc học tập chểnh mảng, sa sút, động cơ phấn đấu trong học tập của một bộ phận chưa cao. Chưa phát hiện được năng lực của bản thân nên chưa định hướng được nghề nghiệp, không biết bản thân thích nghề gì và nghề gì phù hợp với năng lực của bản thân.
- Học sinh bị cuốn vào thế giới ảo, dành hầu hết thời gian vào những trò chơi trên mạng, lười đọc sách, thụ động trong các giờ học, chép bài và trả lời bài học một cách rập khuôn máy móc, hiệu quả làm bài chưa cao. Nhiều học sinh không hứng thú học môn Địa lí.
- Một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn phải đi làm thêm nên thời gian dành cho việc học còn chưa được nhiều.
- Chất lượng học sinh đầu vào thấp, không đồng đều. Một số học sinh gặp phải các vấn đề về hành vi, gặp khó khăn trong việc hòa nhập với bạn bè...
Những yếu kém, hạn chế trên, cùng với các khó khăn đang đặt ra nhiều thách thức cho nhà trường. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh; nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình độ ngày càng cao của thị trường lao động, đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng linh hoạt, sáng tạo và có hiệu quả các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh, khơi dậy sự sáng tạo, hứng thú niềm đam mê nghiên cứu khoa học, và định hướng phát triển nghề nghiệp tương lai cho học sinh đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tình hình mới.
2. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Địa lí
2.1. Những vấn đề lí luận cơ bản của đề tài
* Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
* Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
Kĩ thuật dạy học tích cực là cách giảng dạy mà thầy cô chỉ đưa ra những gợi ý mang tính gợi mở để học sinh cùng nhau thảo luận và tự tìm ra câu trả lời.
* Mục đích của các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực:
- Khuyến khích sự tham gia chủ động của học sinh: Mục đích chính của phương pháp dạy học tích cực là tạo ra một môi trường học tập, học sinh chủ động tham gia vào quá trình học, thay vì chỉ thụ động tiếp nhận thông tin từ giáo viên. Việc này giúp học sinh không chỉ nhớ kiến thức mà còn hiểu và ứng dụng kiến thức vào thực tế.
- Phát triển kĩ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề: Các phương pháp dạy học tích cực khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thảo luận, giải quyết vấn đề, và ra quyết định. Điều này giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện, phân tích và giải quyết các vấn đề một cách sáng tạo và hiệu quả.
- Tạo ra môi trường học tập tương tác, hợp tác: Một trong những mục tiêu quan trọng của dạy học tích cực là xây dựng môi trường học tập tương tác và hợp tác giữa các học sinh và giữa học sinh với giáo viên. Việc học qua nhóm, thảo luận và chia sẻ ý tưởng giúp học sinh học hỏi lẫn nhau, đồng thời rèn luyện các kỹ năng xã hội quan trọng.
- Nâng cao khả năng tự học và tự phát triển: Các phương pháp này tạo cơ hội để học sinh phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu và tiếp cận kiến thức một cách độc lập. Việc khuyến khích học sinh tìm kiếm, khám phá và đánh giá thông tin giúp nâng cao kỹ năng học suốt đời.
- Tăng cường khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn: Thông qua các phương pháp như học qua dự án, học qua trải nghiệm, học sinh không chỉ tiếp thu lý thuyết mà còn biết cách ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Điều này giúp học sinh thấy được tính ứng dụng của môn học và cải thiện khả năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
2.2. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Địa lí
2.2.1 Phương pháp trò chơi
2.2.1.1. Quan điểm dạy học thông qua trò chơi
- Giáo dục thông qua trò chơi được định nghĩa là việc áp dụng các yếu tố điển hình của trò chơi (luật chơi, ghi điểm, tính cạnh tranh) vào các lĩnh vực hoạt động khác, đặc biệt nhằm thu hút người sử dụng trong việc giải quyết vấn đề. Phương pháp này được sử dụng trong tiếp thị và cũng có ứng dụng trong giáo dục. Ngoài việc thúc đẩy lợi ích học tập cụ thể, trò chơi là một hình thức học tập tích cực.
- Trò chơi học tập là hoạt động được diễn ra theo trình tự hoạt động của một trò chơi. Trò chơi học tập có những đặc điểm sau:
+ Nội dung trò chơi gắn với kiến thức, kĩ năng, thái độ của một môn học hoặc một bài học cụ thể.
+ Thường được diễn ra trong thời gian, không gian nhất định của một giờ học. Mọi học sinh đều thu nhận được những nội dung học tập chứa đựng trong trò chơi phù hợp với trình độ và lứa tuổi.
Khác với trò chơi rèn luyện sức khỏe và giải trí, trò chơi học tập nhằm hướng tới sự thông hiểu kiến thức gắn với các nội dung học tập cụ thể của môn học, bài học, lớp học.
- Ưu điểm của phương pháp trò chơi: Là phương pháp giáo dục phù hợp với trẻ em, tạo được sự thích thú, hấp dẫn, không khí vui vẻ, khi chơi HS sẽ thể hiện được mình một cách tự nhiên. Tạo cơ hội giúp HS rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức, phát triển tâm lí, có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải tỏa được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập...
2.2.1.2. Các bước cần thực hiện để tổ chức trò chơi thành công
Để tổ chức trò chơi có hiệu quả thì giáo viên cần thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Chuẩn bị
+ Xác định mục đích của trò chơi: Đây là yếu tố quan trọng để quyết định lựa chọn nội dung và thời gian tiến hành cũng như cách thức thực hiện trò chơi. Chẳng hạn như giáo viên định dùng trò chơi để kiểm tra bài cũ và dẫn dắt bài mới thì thiết kế ở hoạt động khởi động.
+ Lựa chọn đơn vị nội dung kiến thức phù hợp khi tổ chức trò chơi: Nội dung kiến thức cần vừa sức với học sinh. Không nên lựa chọn nội dung quá dễ như vậy sẽ không kích thích được trí tò mò, khát khao khám phá của học trò. Nhưng cũng không nên chọn vấn đề quá khó của bài học, sẽ gây ra sự chán nản cho các em.
+ Lựa chọn trò chơi: Giáo viên có thể sưu tầm trên internet hoặc sáng tạo một số trò chơi sử dụng trong quá trình dạy học. Đối với môn Địa lí, có thể áp dụng một số hình thức trò chơi như: đuổi hình bắt chữ, vua tiếng việt, ô cửa bí mật, vòng quay địa lí, các trò chơi trực tuyến...
+ Chuẩn bị các phương tiện, điều kiện cần thiết cho trò chơi.
- Bước 2: Tổ chức trò chơi
+ Phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi.
+ Tiến hành mẫu: Với những trò chơi mới, giáo viên cần cho học sinh tham gia thử để các em không bỡ ngỡ. (Với những trò chơi đã từng sử dụng thì không cần tiến hành mẫu).
+ HS tiến hành chơi.
- Bước 3: Tổng kết
+ Đánh giá, nhận xét, chốt kiến thức qua trò chơi.
+ Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi
2.2.1.3. Xây dựng một số trò chơi trong dạy học môn Địa lí
a. Tổ chức trò chơi “Đuổi hình bắt chữ”
* Mục tiêu
- Kiểm tra khả năng giải quyết vấn đề, kết nối với bài học, tạo tâm thế để bắt đầu tiết học hiệu quả.
- Sử dụng trò chơi trong hoạt động khởi động.
* Nội dung: Tổ chức trò chơi “Đuổi hình bắt chữ”
* Cách thức tổ chức
- Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh: Khởi động với trò chơi “Đuổi hình bắt chữ” hình thức cá nhân.
+ Thể lệ chơi: Có các miếng ghép tương ứng với các hình vẽ lần lượt xuất hiện trên màn hình. Mỗi hình vẽ xuất hiện học sinh có 10 giây để giơ tay giành quyền đoán nội dung hình vẽ đó. Trả lời sai, sẽ nhường quyền trả lời cho học sinh khác. Mỗi một bức hình đoán chính xác sẽ được một phần quà (điểm số).
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh tham gia trò chơi bằng cách giơ tay nhanh nhất.
- Bước 3: HS báo cáo kết quả nhiệm vụ.
Giáo viên gọi học sinh bất kì trả lời, các học sinh khác bổ sung ý kiến.
- Bước 4: Đánh giá và nhận xét
Dựa vào câu trả lời của học sinh, giáo viên kết nối vào bài học
*Kết quả thực hiện: Trò chơi “Đuổi hình bắt chữ” thích hợp tổ chức trong phần khởi động bài học. Qua trò chơi học sinh có khả năng hình thành những thông tin để tiếp nhận bài mới một cách hứng thú, chủ động và sáng tạo, học sinh phát huy được năng lực.
Ví dụ minh hoạ: Tổ chức trò chơi “Đuổi hình bắt chữ” trong hoạt động khởi động bài “Bài 31: Địa lí ngành thương mại và du lịch” (Địa lí 12)
Thể lệ chơi: Có các miếng ghép tương ứng với các hình vẽ lần lượt xuất hiện trên màn hình. Mỗi hình vẽ xuất hiện học sinh có 10 giây để giơ tay giành quyền đoán nội dung hình vẽ đó. Trả lời sai, sẽ nhường quyền trả lời cho học sinh khác. Mỗi một bức hình đoán chính xác sẽ được một phần quà (điểm số).
b. Tổ chức trò chơi “Ai nhanh mắt nhất?”
* Mục tiêu: Tạo sự tò mò, ham học hỏi và lòng khao khát muốn tìm hiểu những điều ở hoạt động hình thành kiến thức mới của bài học; tạo không khí hứng khởi để học sinh bắt đầu một tiết học mới.
* Nội dung: Tổ chức trò chơi “Ai nhanh mắt nhất?”
* Cách thức tổ chức
- Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh:
+ Cá nhân (nhóm)
+ Giáo viên thiết kế các ô từ ẩn các cụm từ liên quan đến nội dung của bài học. Mỗi học sinh (hoặc mỗi nhóm học sinh) giao cho 1 bảng ô chữ in sẵn (bảng ô chữ có thể ép plastic để làm đồ dùng dạy học cho nhiều lớp, nhiều năm). Học sinh tìm ra các từ khóa ẩn trong ô chữ, dùng bút để khoanh vào các từ khóa hoặc viết các từ khóa đã tìm được.
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh tham gia trò chơi bằng quan sát
kĩ bảng ô chữ để tìm được ra các cụm từ liên quan đến nội dung bài học theo hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo.
- Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả nhiệm vụ.
+ Học sinh nộp phiếu khi hết thời gian.
+ Học sinh trả lời (có thể đúng, có thể sai).
- Bước 4: Đánh giá và nhận xét
Dựa vào câu trả lời của học sinh, giáo viên kết nối vào bài học hoặc khắc sâu, củng cố kiến thức bài học.
* Kết quả thực hiện: Trò chơi “Ai nhanh mắt nhất?” thích hợp trong phần khởi động bài học nhằm tạo hứng thú cho học sinh trước khi bước vào bài học hoặc phần củng cố để học sinh ôn tập kiến thức, đồng thời cũng có thể sử dụng luôn trong phần nội dung bài mới nhằm hình thành kiến thức cho học sinh. Khi tổ chức trò chơi “Ai nhanh mắt nhất?” theo nhóm thì năng lực hợp tác và giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ được phát triển mạnh mẽ vì học sinh bị sức ép về thời gian, tính thi đua các nhóm diễn ra mạnh mẽ nên cần phải hợp tác cùng nhau mới có kết quả cao.
Ví dụ minh hoạ: Tổ chức trò chơi “Ai nhanh mắt nhất?” trong hoạt động khởi động bài “Bài 15. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, dân cư và xã hội khu vực Tây Nam Á (tiết 3)” (Địa lí 11 – Bộ sách KNTT với cuộc sống)
Thể lệ chơi: Mỗi nhóm (mỗi học sinh) có 1 bảng ô chữ. Học sinh quan sát thật kĩ để tìm ra các từ khóa ẩn trong ô chữ theo hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo. Sau đó, dùng bút khoanh vào các từ khóa hoặc viết các từ khóa tìm được.
c. Tổ chức trò chơi “Vòng quay địa lí”
* Mục tiêu: Kiểm tra khả năng giải quyết vấn đề, tạo hứng thú để học bài mới, củng cố kiến thức bài học thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, các câu hỏi trả lời ngắn.
* Nội dung: Trò chơi “Vòng quay địa lí”.
* Cách thức tổ chức
- Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh.
+ Khởi động (củng cố kiến thức bài học) với trò chơi “Vòng quay địa lí”.
+ Gồm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, các câu hỏi trả lời ngắn liên quan đến nội dung bài học.
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
Học sinh tham gia trò chơi bằng cách giơ tay nhanh nhất.
- Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả nhiệm vụ: Giáo viên gọi học sinh bất kì trả lời, các học sinh khác bổ sung ý kiến.
- Bước 4: Đánh giá và chốt kiến thức
* Kết quả thực hiện: Trò chơi “Vòng quay địa lí” thích hợp để ôn tập kiến thức trong hoạt động luyện tập và các tiết học ôn tập, tạo cho học sinh tính tích cực, chủ động.
Ví dụ minh hoạ: Tổ chức trò chơi “Vòng quay địa lí” trong hoạt động luyện tập “Bài 23: Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, dân cư và xã hội Nhật Bản (tiết 3)”
Thể lệ chơi: Có 6 câu hỏi để các em lựa chọn. Nếu trả lời đúng sẽ được quay “vòng quay may mắn” để nhận được số điểm của mình.
Câu 1. Dân số Nhật Bản đứng thứ bao nhiêu trên thế giới?
A. Đứng thứ 2 thế giới. B. Đứng thứ 12 thế giới.
C. Đứng thứ 11 thế giới. D. Đứng thứ 3 thế giới.
Câu 2: Đặc điểm nào sau đây đúng với dân số Nhật Bản?
A. Ít dân. B. Cơ cấu dân số trẻ. C. Đông dân. D. Tỉ lệ sinh cao.
Câu 3. Phát biểu nào sau đây không đúng về dân cư Nhật Bản?
A. Tỉ lệ gia tăng dân số cao. B. Cơ cấu dân số già.
C. Là một nước đông dân. D. Phần lớn dân ở các đô thị ven biển.
Câu 4. Tỉ lệ người già trong dân cư ngày càng lớn đã gây khó khăn chủ yếu nào sau đây đối với Nhật Bản?
A. Thiếu nguồn lao động, chi phí phúc lợi xã hội lớn.
B. Thiếu nguồn lao động, phân bố dân cư không hợp lí.
C. Thu hẹp thị trường tiêu thụ, mở rộng dịch vụ an sinh.
D. Thu hẹp thị trường tiêu thụ, gia tăng sức ép việc làm.
Câu 5. Đặc điểm nào sau đây đúng với đặc điểm xã hội của Nhật Bản?
A. Chú trọng đầu tư cho giáo dục. B. Xuất hiện nền văn minh Lưỡng Hà.
C. Đa sắc tộc, đa tôn giáo. D. Hồi giáo là tôn giáo chính.
Câu 6. Một trong những đặc điểm nổi bật của nguồn lao động Nhật Bản là
A. có tinh thần đoàn kết và tự cường dân tộc.
B. ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm rất cao.
C. thiếu lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao.
D. đội ngũ cán bộ quản lí và công nhân kĩ thuật lành nghề còn thiếu nhiều.
d. Sử dụng các ứng dụng trò chơi trực tuyến
- Sau mỗi bài học, Giáo viên có thể sử dụng các ứng dụng trò chơi trực tuyến như Classpoint, Quizziz, Kahoot, Blooket, plicker...
- Ưu điểm:
+ Củng cố kiến thức cho học sinh.
+ Học sinh dễ dàng tham gia, khi hết giờ phần mềm sẽ hiển thị kết quả và
vinh danh người chiến thắng. Điều này tăng hứng thú học tập và thi đua của HS.
2.2.2.1. Quan điểm dạy học bằng bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (Mindmap) hay còn gọi là sơ đồ tư duy hay lược đồ tư duy. Là phương pháp chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
Ưu điểm của phương pháp bản đồ tư duy: Kích thích sự sáng tạo và tăng hiệu quả tư duy vì sơ đồ tư duy là một công cụ ghi nhận và sắp xếp các ý tưởng, nội dung một cách nhanh chóng, đa chiều và logic. Dễ dàng bổ sung, phát triển, sắp xếp lại, cấu trúc lại các nội dung. Tăng khả năng ghi nhớ thông tin khi nội dung được trình bày dưới dạng từ khóa và hình ảnh. Bên cạnh đó, học sinh có cơ hội luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng, nâng cao khả năng khái quát, tóm tắt, ghi nhớ tiêu điểm.
Việc vận dụng sơ đồ tư duy vào hệ thống hóa kiến thức không chỉ áp dụng trong từng bài học riêng lẻ (sử dụng trong dạy kiến thức mới, ôn tập, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức) mà giáo viên cũng thường xuyên vận dụng để hệ thống hóa nhiều lượng kiến thức khác nhau như khi hệ thống hóa một số các bài học liên quan, thậm chí cả một chương.
2.2.2.2. Hướng dẫn HS các bước thực hiện bản đồ tư duy
- Bước 1: Xác định chủ đề của bài học: đầu tiên khi bắt đầu vẽ bản đồ tư duy là phải tổng hợp lại toàn bộ thông tin, kiến thức và xác định chủ đề chính hay cụm từ khóa thể hiện ngắn gọn nhưng rõ ý chính của nội dung bài học.
- Bước 2: Lựa chọn phương pháp vẽ bản đồ tư duy đẹp và phù hợp: Có thể vẽ bản đồ tư duy bằng tay trên giấy, bảng hoặc sử dụng phần mềm máy tính (mindmap, Xmind, Edraw Mind Map...)
- Bước 3: Vẽ chủ đề chính và các nhánh phụ: Viết chủ đề của bài giảng ở giữa trang giấy hoặc màn hình máy tính. Thêm vào các nhánh thích hợp: từ ô chủ đề chính, ta vẽ tiếp các nhánh nhỏ thể hiện các ý phụ, chủ đề phụ bổ trợ nội dung cho chủ đề chính. Ta có thể sáng tạo vẽ các nhánh với hình dạng khác nhau, sắp xếp sao cho dễ nhìn thấy nhất. Từ các nhánh cấp 1, bạn tiếp tục thể hiện các ý nhỏ bằng các nhánh cấp 2, cấp 3. Cứ tiếp tục vẽ phân nhánh cho đến khi liệt kê đầy đủ nội dung cần thiết.
- Bước 4: Trang trí bản đồ tư duy đẹp và thu hút: Muốn làm cho bản đồ tư duy của mình sinh động và hấp dẫn hơn bằng cách sử dụng các màu sắc khác nhau cho các nhánh, thêm các hình ảnh minh họa, biểu tượng cảm xúc, biểu đồ, bảng... Chọn những màu sắc và hình ảnh phù hợp với nội dung và không làm rối mắt người xem.
2.2.2.3. Ví dụ minh họa: Bài 15 - Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai (Địa lí 12)
a. Mục tiêu: Hệ thống hóa kiến thức về một số thiên tai chủ yếu của nước ta và biện pháp phòng chống.
b. Nội dung: HS tóm tắt nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy.
c. Sản phẩm: Sơ đồ tư duy về một số thiên tai chủ yếu của nước ta và biện pháp phòng chống.
d. Tổ chức thực hiện:
- Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập:
Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống dưới dạng sơ đồ tư duy vào vở ghi.
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh thực hiện theo yêu cầu.
- Bước 3: Báo cáo:
Giáo viên gọi ngẫu nhiên 3 học sinh lần lượt trình bày ý kiến cá nhân. Các học sinh khác nhận xét bổ sung.
- Bước 4: Đánh giá kết quả học tập:
Giáo viên nhận xét về hoạt động cá nhân của học sinh và nhấn mạnh nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy trên bảng.
Bảng đánh giá sơ đồ tư duy của HS
|
Nội dung |
Mức đánh giá |
||
|
Mức 1 |
Mức 2 |
Mức 3 |
|
|
Phần thông tin |
HS trình bày được 1/3 nội dung trọng tâm. |
HS trình bày được 2/3 nội dung trọng tâm. |
HS trình bày được đầy đủ nội dung trọng tâm. |
|
Phần hình thức |
Sơ đồ chưa thể hiện được ý lớn, ý nhỏ, sử dụng từ khoá, hình ảnh chưa phù hợp. |
Sơ đồ thể hiện được ý lớn, ý nhỏ, một vài từ khoá chưa phù hợp. |
Sơ đồ thể hiện được ý lớn, ý nhỏ, từ khoá, hình ảnh phù hợp. |
2.2.3.
2.2.3.1. Quan điểm dạy học bằng kĩ thuật khăn trải bàn
Kĩ thuật khăn trải bàn là cách thức tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác, kết hợp giữa hoạt động cá nhân. Học sinh sử dụng giấy khổ lớn để ghi nhạn ý kiến cá nhân và ý kiến thống nhất chung của nhóm vào các phần được bố trí như khăn trải bàn.
Kĩ thuật khăn trải bàn có những ưu điểm nổi bật: Thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh trong quá trình học tập theo nhóm. Huy động được trí tuệ tập thể của nhóm trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ. Có công cụ để ghi nhận kết quả làm việc của cá nhân và thảo luận nhóm.
Tuy nhiên, khi tổ chức kĩ thuật khăn trải bàn cần có không gian lớp học, đồ dùng dạy hoc phù hợp (giấy khổ lớn, bút lông...) và phân bố thời gian pù hợp để học sinh làm việc cá nhân và thống nhất ý kiến trong nhóm.
2.2.3.2. Cách tiến hành
- Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 - 6 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy khổ lớn.
- Học sinh chia tờ giấy thành các phần, bao gồm một phần trung tâm và các phần xung quanh có số lượng bằng với số thành viên trong nhóm.
- Mỗi thành viên ngồi vào vị trí tương ứng phần xung quanh.
- Mỗi thành viên làm việc độc lập, suy nghĩ và viết ý tưởng về nhiệm vụ được giao vào ô của mình trong thời gian quy định.
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận thống nhất câu trả lời. Đại diện nhóm ghi các ý tưởng được thống nhất vào phần trung tâm của “khăn trải bàn”.
2.2.3.3. Ví dụ minh họa
Giáo viên sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm với nhiệm vụ “Hãy đóng vai chuyên gia, đưa ra những hình thức, biện pháp bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay” trong nội dung bài 5: Vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Chương trình địa lí lớp 12 – Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống).
a. Mục tiêu: đưa ra những hình thức, biện pháp bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay.
b. Nội dung: HS đưa ra ý kiến cá nhân, sau đó các thành viên chia sẻ, thảo luận thống nhất câu trả lời trong nhóm.
c. Sản phẩm: Những hình thức, biện pháp bảo vệ môi trường ở nước ta.
d. Tổ chức thực hiện: Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm gồm 6 học sinh và hướng dẫn học sinh hoạt động theo kĩ thuật khăn trải bàn để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập: Các nhóm “Hãy đóng vai chuyên gia, đưa ra những hình thức, biện pháp bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay”.
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh thực hiện theo yêu cầu.
Mỗi học sinh trong nhóm viết câu trả lời vào vị trí ý kiến cá nhân, sau đó các học sinh trong cùng nhóm thảo luận, thống nhất ý kiến và viết kết quả vào phần chính giữa “Khăn trải bàn”.
- Bước 3: Báo cáo: Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận nhóm. Các nhóm khác theo dõi, thảo luận, bổ sung.
- Bước 4: Đánh giá kết quả học tập:
Giáo viên nhận xét về hoạt động cá nhân của học sinh, của cả nhóm và tổng kết nội dung.
Như vậy, thông qua việc vận dụng kĩ thuật khăn trải bàn trong ví dụ trên, học sinh sẽ hình thành được thành phần năng lực nhận thức khoa học địa lí, tìm hiểu địa lí, vận dụng kiến thức kĩ năng đã học, năng lực giao tiếp và hợp tác.
2.2.4. Kĩ thuật dạy học “Trạm”
2.2.4.1. Quan điểm dạy học bằng kĩ thuật “Trạm”
Dạy học theo trạm còn gọi là dạy học theo góc (thuật ngữ được sử dụng trong tiếng Anh là Working with areas hay Working in corners) là một kiểu tổ chức dạy học dựa trên kiểu làm việc tại các trạm.
Trong kiểu tổ chức dạy học theo trạm, hoạt động của học sinh tại các trạm hoàn toàn tự do. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh làm việc cá nhân, theo cặp hoặc theo nhóm để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau ở các trạm về một nội dung kiến thức xác định. Các nhiệm vụ nhận thức ở các trạm cần có tính tương đối độc lập với nhau, sao cho học sinh có thể bắt đầu ở một trạm bất kì. Sau khi hoàn thành trạm đó, học sinh sẽ chuyển sang trạm bất kì còn lại.
Dạy học theo kĩ thuật “Trạm” giúp học sinh thay đổi trạng thái khi di chuyển, triển khai được nhiều nội dung học tập khác nhau cùng một lúc và còn tiết kiệm cơ sở vật chất. Đồng thời hình thành và phát triển các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, khả năng hợp tác, làm việc cùng nhau, chia sẻ kinh nghiệm cũng như kiến thức,… từ đó phát triển tư duy, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề. Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả của cá nhân và của nhóm mình qua đó nâng cao năng lực đánh giá của bản thân...
Một số lưu ý khi dạy học theo Trạm
+ Dạy học theo trạm phù hợp với bài mới có nhiều nội dung độc lập nhau hoặc bài ôn tập.
+ Có hai cách chuyển trạm: Người di chuyển còn thiết bị học tập thì bố trí cố định tại các vị trí (áp dụng khi phòng rộng và ít người) hoặc thiết bị học tập di chuyển còn người thì đứng yên (áp dụng khi phòng đông người, thiết bị học nhỏ gọn).
+ Giáo viên phải có thời gian chuẩn bị học liệu, dụng cụ học tập công phu.
+ Thời gian cần để tiến hành dạy học một đơn vị kiến thức theo hình thức này thường dài hơn thời gian khi dạy dưới hình thức truyền thống.
2.2.4.2. Các bước tổ chức dạy học bằng kĩ thuật dạy học “Trạm”
Để cho học sinh nắm bắt được cách thức làm việc, hình thức đánh giá kết quả học tập nhằm tạo ra sự ganh đua giữa các nhóm và giữa các học sinh với nhau, đồng thời tránh được tình trạng mất trật tự trong quá trình làm việc cũng như năng lực học tập của học sinh giữa các nhóm chênh lệch nhau sẽ làm cho kết quả học tập giữa các nhóm quá chênh lệch nhau thì khi tổ chức một giờ dạy học theo trạm, giáo viên cần phải tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Thống nhất nội quy học tập theo trạm
Giáo viên giới thiệu nội dung học tập ở các trạm, số lượng các trạm. Giới thiệu phiếu học tập - phiếu hỗ trợ, bảng hoạt động nhóm và cách làm việc trên các phiếu học tập.
- Bước 2: Chia nhóm và giao nhiệm vụ
Đây là công việc đơn giản nhưng lại rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của quá trình học tập. Tùy thuộc vào mức độ khó - dễ của kiến thức, thời gian, mà giáo viên có thể cho học sinh tự chia nhóm theo sở thích hoặc giáo viên tự chia nhóm để việc học được thuận lợi và tránh mất nhiều thời gian. Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm.
- Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh có thể làm việc cá nhân, theo cặp hay theo nhóm tùy theo yêu cầu nhiệm vụ học tập ở mỗi trạm. Bước này giáo viên quan sát và trợ giúp cho học sinh khi gặp phải khó khăn trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập.
- Bước 4: Tổng kết kết quả học tập
Sau khi các nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ các trạm theo thời gian quy định, từng nhóm cử đại diện trình bày kết quả trạm cuối cùng mà nhóm vừa hoàn thành trước lớp. Các nhóm còn lại nhận xét, đánh giá kết quả của nhóm vừa báo cáo. Khi các nhóm đã báo cáo xong, giáo viên trình chiếu đáp án cho từng trạm hoặc các nhóm trao đổi bài làm cho nhau để đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các nhóm ở từng trạm, trên cơ sở đó các đánh giá - cho điểm các nhóm khác đối với hai tiêu chí: đánh giá tính tích cực của nhóm và đánh giá trên kết quả bài làm.
2.2.4.3. Ví dụ minh họa
Vận dụng kĩ thuật trạm khi tìm hiểu về vấn đề phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên (Bài 28. Khai thác thế mạnh phát triển kinh tế ở Tây Nguyên - Địa Lí 12 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
a. Mục tiêu
- Kiến thức:
+ Phân tích thế mạnh, hạn chế (về tự nhiên, kinh tế - xã hội) đối với phát triển cây công nghiệp lâu năm ở vùng Tây Nguyên.
+ Trình bày sự phát triển và phân bố cây công nghiệp lâu năm ở vùng Tây Nguyên.
- Kĩ năng: Đọc và trình bày, khai thác kiến thức từ tư liệu, tranh ảnh, video.
b. Nội dung
Dựa vào các thông tin SGK, tranh ảnh, video để phân tích các thế mạnh và hạn chế; trình bày sự phát triển và phân bố cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên
c. Sản phẩm: Thế mạnh, hạn chế, sự phát triển và phân bố cây công nghiệp lâu năm ở vùng Tây Nguyên.
d. Tổ chức thực hiện
* Giao nhiệm vụ: Giáo viên tổ chức nghiên cứu nội dung bài học bằng kĩ thuật trạm:
- Bước 1: GV chia lớp thành 2 cụm (4 nhóm): Cụm thực nghiệm (nhóm 1, 2 ) và cụm đối chứng (nhóm 3, 4), giao nhiệm vụ cho các nhóm: đọc thông tin mục II.1 SGK từ trang 126 đến trang 130 và các thông tin, hình ảnh, video ở các trạm để nghiên cứu về thế mạnh, hạn chế, hiện trạng phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên.
+ Nội dung nghiên cứu của các trạm:
+ Thời gian tìm hiểu ở mỗi trạm: 3 phút
+ Các bước tiến hành tại các trạm:
- Bước 2: GV hướng dẫn cách di chuyển học liệu của các nhóm giữa các trạm theo sơ đồ.
Lượt 1 (3 phút)
~ Nhóm 1 và nhóm 3 tìm hiểu về thế mạnh và hạn chế phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên thông qua tư liệu.
~ Nhóm 2 và nhóm 4 tìm hiểu hiện trạng phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên thông qua video.
Lượt 2 (3 phút)
~ Nhóm 1 và nhóm 3 tìm hiểu hiện trạng phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên thông qua video.
~ Nhóm 2 và nhóm 4 tìm hiểu về thế mạnh và hạn chế phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên thông qua tư liệu.
* Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh lần lượt tìm hiểu kiến thức ở các trạm, hoàn thành phiếu bài tập cá nhân; Sau đó HS sẽ tiến hành thảo luận nhóm hoàn thành bảng kết quả hoạt động trạm của nhóm.
* Báo cáo: Giáo viên cho các nhóm treo sản phẩm, gọi các nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- Dựa trên bảng tổng hợp kiến thức của giáo viên, các nhóm học sinh tiến hành chấm chéo theo tiêu chí chấm điểm.

* Tổng kết, đánh giá: Giáo viên nhận xét, mở rộng, chuẩn kiến thức, đánh giá phần làm việc của từng nhóm.
3. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm
3.1. Đối với giáo viên
Giáo viên sẽ nâng cao trình độ tổ chức những hoạt động dạy và học theo hướng tích cực. Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đáp ứng được những yêu cầu để thực hiện chương tình giáo dục tổng thể 2018.
Giúp giáo viên đổi mới kế hoạch bài học, đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học đáp ứng yêu cầu của chương trình sách giáo khoa mới, phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, lấy người học làm trung tâm.
Đề tài góp phần thúc đẩy nhiều phong trào thi đua trong trường của giáo viên và học sinh như phong trào hội giảng chào mừng các ngày lễ lớn.
Chất lượng đội ngũ giáo viên đang được nâng cao. Số giáo viên đạt giải trong các kỳ thi giáo viên dạy giỏi, thi kỹ năng công nghệ thông tin cũng tăng lên (Năm học 2023 - 2024: Có 02 giáo viên đạt giải Nhì, Ba cấp cụm).
3.2. Đối với học sinh
Từ thực tế giảng dạy và áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tôi nhận thấy học sinh đã hứng thú hơn khi học Địa lí, nhiều em yêu thích và say mê môn học. Các em được thoải mái tham gia các hoạt động học tập. Giờ học bớt sự căng thẳng, khô khan, không còn tình trạng học sinh làm việc riêng...
Kết quả điều tra nhận thức của học sinh sau khi áp dụng SKKN
|
Lớp |
Sĩ số |
Rất tích cực |
Tích cực |
Chưa tích cực |
|||
|
Số lượng (HS) |
% |
Số lượng (HS) |
% |
Số lượng (HS) |
% |
||
|
11H |
42 |
12 |
28,6 |
24 |
57,1 |
6 |
14,3 |
|
11I |
43 |
11 |
25,6 |
25 |
58,1 |
7 |
16,2 |
|
12C |
42 |
13 |
31,0 |
24 |
57,1 |
5 |
11,9 |
|
12D |
44 |
15 |
34,1 |
25 |
56,8 |
4 |
9,1 |
Bảng Kết quả học tập môn Địa lí của học sinh năm học 2023 - 2024
|
Lớp |
Sĩ số |
Tốt |
Khá |
Đạt |
Chưa đạt |
||||
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
||
|
11H |
42 |
16 |
38,1 |
26 |
61,9 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
11I |
43 |
14 |
32,6 |
24 |
55,8 |
5 |
11,6 |
0 |
0 |
|
12C |
42 |
39 |
92,9 |
3 |
7,1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
12D |
44 |
41 |
93,2 |
3 |
6,8 |
0 |
0 |
0 |
0 |
4. Hiệu quả của đề tài
4.1. Hiệu quả khoa học
5. Khả năng áp dụng
Với đề tài “Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Địa lí” có thể áp dụng cho học sinh cả 3 khối 10, 11, và 12 và có thể áp dụng cho các môn học khác trong chương trình giáo dục THPT, đồng thời phát triển tư duy sáng tạo trong công việc và cuộc sống tương lai của học sinh.
6. Thời gian thực hiện đề tài
Đề tài tài “Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Địa lí” được thực hiện trong năm học 2023 – 2024 và tiếp tục được thực hiện trong năm học 2024 - 2025.
PHẦN III: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đã góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. Đồng thời tạo ra những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn thói quen và khả năng tự học. Từ đó các em cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc học, có động cơ và hứng thú học tập. Trong các giờ học các em tự tin phát biểu ý kiến, thảo luận trao đổi các vấn đề của bài học và đã biết vận dụng kiến thức, kỹ năng được học trên lớp vào cuộc sống thực tiễn hằng ngày.
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc dạy học. Giúp giáo viên dạy bộ môn Địa lí khai thác được các kênh chữ, kênh hình để tiết học trở lên hấp dẫn, sinh động. Về phía bản thân tôi xin hứa sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy những thành quả đạt được của sáng kiến này đồng thời không ngừng học hỏi đúc rút kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Để việc vận dụng sáng kiến có hiệu quả trong quá trình dạy và học nhằm nâng cao chất dạy và học tôi có một số kiến nghị, đề xuất sau:
- Đối với các cấp lãnh đạo và nhà trường: Tổ chức tập huấn chuyên môn cho giáo viên đặc biệt là khi có các phương pháp dạy học mới, cần tổ chức thường xuyên các buổi chuyên đề cho giáo viên giảng dạy tham gia để trao đổi các giải pháp hay. Từ đó, giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn.
- Mỗi giáo viên phải thường xuyên học tập, nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân. Cần thường xuyên cho các em thấy được sự gắn kết giữa môn Địa lí và các bộ môn khác.
- Mỗi học sinh phải không ngừng học tập, nắm vững kiến thức về các môn học trong chương trình học tập của mình. Luôn có ý thức tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu kiến thức mới. Biết vận dụng kiến thức vào học tập và vào thực tế cuộc sống.
Trên đây là những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy bộ môn Địa lí của bản thân. Tôi rất mong sự tham gia đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là của tôi không sao chép ở bất kì nguồn nào khác. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ba Vì, ngày 25 tháng 3 năm 2025
Xác nhận của Trung tâm Giáo viên thực hiện
14:54 02/04/2025
Copyright © 2022 TRUNG TÂM GDNN - GDTX HUYỆN BA VÌ